> Chuyên mục > Nghiên cứu - Trao đổi > Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh (9.2.1907 - 9.2.2017). Đồng chí Trường Chinh với

Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh (9.2.1907 - 9.2.2017). Đồng chí Trường Chinh với công tác lập pháp và xây dựng bộ máy nhà nước

08 Tháng Hai 2017
Từ năm 1960 đến năm 1981, đồng chí Trường Chinh liên tục là Chủ tịch UBTVQH (nay là Chủ tịch QH) các Khóa II, III, IV, V và VI. Trong 21 năm đó, trên cương vị là người đứng đầu QH, đồng chí đã dành hết sức lực, tâm huyết và đã có nhiều cống hiến to lớn cho công tác lập pháp và xây dựng bộ máy nhà nước.
 
Những cống hiến xuất sắc

Sau năm 1954, miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng, nhưng miền Nam lại đặt dưới sự kiểm soát của đế quốc và tay sai. Nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nước ta lúc này là lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, giành lại nền độc lập trọn vẹn cho toàn dân tộc. Về kinh tế - xã hội, quan hệ sản xuất phong kiến ở miền Bắc tồn tại hàng nghìn năm đã bị xóa bỏ; quan hệ sản xuất mới mà cốt lõi là “người cày có ruộng” đã được thiết lập. Quan hệ đối ngoại của nước ta với các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (cũ) ngày càng phát triển. Trước tình hình đó và sau khi Hiến pháp năm 1959 ra đời thì nhiệm vụ lớn lao của miền Bắc là phải xây dựng Nhà nước Việt Nam theo quy định của Hiến pháp mới. Bộ máy nhà nước đó phải phát huy cao độ hiệu lực và hoạt động có hiệu quả cao nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử. Phải kế tục tư tưởng xây dựng một Nhà nước dân chủ nhân dân, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân; nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua QH và HĐND các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tính chất của Nhà nước Việt Nam là một nước dân chủ nhân dân. Là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, trên cương vị Chủ tịch UBTVQH, đồng chí Trường Chinh đã đóng góp tích cực, có trách nhiệm cao trong việc bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi có hiệu quả.
Cống hiến trực tiếp của người đứng đầu QH là lãnh đạo QH hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; quyết định chính xác những vấn đề trọng đại của quốc gia. Đồng chí Trường Chinh đã lãnh đạo các cơ quan trong bộ máy nhà nước chẳng những hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ mà còn giữ được mối quan hệ chặt chẽ theo luật định với các cơ quan dân cử. Quá trình thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ đã tạo sự thống nhất cao trong bộ máy nhà nước, phát huy được vai trò của từng cơ quan, của từng cá nhân đứng đầu các cơ quan theo quy định của Hiến pháp.

Cống hiến xuất sắc của đồng chí thể hiện ở sự kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam (trước đây là Đảng Lao động Việt Nam) luôn luôn là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Mặc dù Hiến pháp năm 1959 cũng như các văn kiện của Đảng, Nhà nước thời kỳ đó chưa xuất hiện khái niệm “Hệ thống chính trị” nhưng trên thực tế hệ thống chính trị gồm Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng đã được hình thành từ trước Cách mạng Tháng Tám và luôn luôn là một khối đại đoàn kết thống nhất trong sự nghiệp cách mạng. Với vai trò là Chủ tịch UBTVQH, đồng chí đã lãnh đạo QH quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, thiết lập các chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước theo hiến định.

Trong các nhiệm kỳ QH, từ Khóa II đến Khóa VI, đồng chí Trường Chinh đã trực tiếp chỉ đạo việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 1959; chỉ đạo và trực tiếp tham gia xây dựng Hiến pháp năm 1980 và 7 đạo luật, 7 nghị quyết của QH, 21 pháp lệnh cùng 34 nghị quyết của UBTVQH. Đó là một khối lượng công việc không nhỏ về lập pháp của QH và cá nhân Chủ tịch Trường Chinh. Bước đầu các quan hệ xã hội đã được điều chỉnh bằng Hiến pháp, pháp luật trong giai đoạn lịch sử cam go (huy động sức người, sức của phục vụ chiến trường miền Nam; chống chiến tranh phá hoại ác liệt của đế quốc Mỹ ở miền Bắc; thực hiện thống nhất đất nước; xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước sau 1975).

Kỳ họp đầu tiên của QH Khóa VI, chúng ta đã hoàn thành kế hoạch thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Đồng chí Trường Chinh tiếp tục được bầu làm Chủ tịch UBTVQH khóa này. QH đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới và nước Việt Nam có sứ mệnh lịch sử mới. Bước vào xây dựng đất nước sau chiến tranh, hoàn cảnh lịch sử xã hội đã thay đổi. Yêu cầu xây dựng một bản Hiến pháp cho thời kỳ mới được đặt ra khá bức xúc. Tại Kỳ họp thứ Nhất, QH Khóa VI, sau khi thảo luận đề nghị nêu trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng, ngày 2.7.1976, QH đã thông qua Nghị quyết thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 vị do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch. Sau 5 năm nghiên cứu xây dựng, chỉnh lý dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Trường Chinh, bản dự thảo Hiến pháp mới đã được công bố lấy ý kiến toàn dân. Và tại Kỳ họp thứ 7, QH Khóa VI, hồi 15 giờ 25 phút ngày 18.12.1980, QH đã nhất trí cao thông qua bản Hiến pháp năm 1980, thay thế Hiến pháp năm 1959.

Bộ máy nhà nước giai đoạn mới được xây dựng theo quy định của Hiến pháp mới, trong đó xác định, “QH là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Điều 82 của Hiến pháp này quy định vị trí đặc biệt của QH trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước (với tinh thần kế thừa các Hiến pháp năm 1946 và 1959). Theo đó, QH là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. QH là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

QH còn có một quyền rộng rãi, đặc biệt được quy định tại Khoản 15, Điều 83 là, “QH có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết”. Quy định này nhằm tạo mọi điều kiện để QH hoàn thiện một cách đầy đủ nhất và thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của mình. Các chủ thể trình dự án luật cũng được quy định rất rõ ràng tại Điều 86, “Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch QH, Hội đồng Quốc phòng, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH, các ĐBQH, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chính đảng, Tổng Công đoàn Việt Nam, tổ chức liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có quyền trình dự án luật ra trước QH”... Đó là những tiến bộ của Hiến pháp 1980, là công lao của cơ quan lập pháp mà Chủ tịch Trường Chinh là người đứng đầu.

Dấu ấn trong xây dựng chính quyền địa phương

Nói đến xây dựng bộ máy nhà nước, không thể không nói đến xây dựng chính quyền địa phương. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền địa phương ở nước ta là các UBND cách mạng và Ủy ban công nhân cách mạng (thay thế cho chính quyền cũ đã bị đánh đổ), vừa là bộ máy chính quyền địa phương, vừa là bộ máy hành chính. Đây là tổ chức chính quyền địa phương độc đáo, phù hợp với điều kiện cách mạng của nước ta (nó vừa là cơ quan hành chính để quản lý nhà nước như một bộ máy nhà nước, vừa thể hiện tính dân chủ, là chính quyền của nhân dân). Đồng chí Trường Chinh viết: “Những tổ chức ấy có tác dụng rất lớn. Chúng mang lại cho nhân dân một dịp thực hiện phổ thông đầu phiếu và tập dần công việc hành chính”(1)

Xem lại Sắc lệnh số 63 ngày 22.11.1945, chúng ta thấy rằng, pháp luật khi ấy chỉ mới quy định tính đại diện của HĐND, chưa quy định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương như sau này, nhưng trong các quy định về thẩm quyền và các mối quan hệ với Ủy ban hành chính và các cơ quan chính quyền cấp trên thì HĐND là cơ quan chủ đạo. Sau đó Hiến pháp năm 1946 mới quy định, “Ủy ban hành chính chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với HĐND cấp mình” (Điều 60, Hiến pháp năm 1946). Như vậy, bộ máy chính quyền địa phương gồm hai cơ quan là HĐND và UBND, lấy HĐND làm nền tảng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bộ máy này được thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu điều hành kháng chiến với sáu sắc lệnh được ban hành trong các năm 1947 - 1950. Hòa bình được lập lại ở miền Bắc, Nhà nước đã thực hiện các biện pháp sâu rộng và mạnh mẽ để củng cố và hoàn thiện tổ chức chính quyền nhân dân các cấp ở địa phương. Quan điểm của Đảng ta lúc này là làm cho chính quyền thật vững mạnh, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để thực hiện chiến tranh nhân dân có hiệu quả. Đến Hiến pháp năm 1959, lần đầu tiên HĐND được Hiến pháp ghi nhận là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, và đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch UBTVQH đã phát triển về mặt nhận thức và xác định đúng đắn vai trò, vị trí của HĐND. Với vai trò là Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp năm 1980, đồng chí đã chỉ đạo đổi mới thiết chế chính quyền địa phương cho phù hợp với giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ, trong đó đã xóa bỏ cấp Khu tự trị (khu tự trị Việt Bắc và khu tự trị Tây Bắc), cấu trúc đơn vị hành chính của thành phố trực thuộc Trung ương cũng được quy định “cứng”, cơ quan chấp hành là UBND chứ không phải Ủy ban Hành chính.

Qua đây chúng ta thấy rõ ý nghĩa chiến lược trong lãnh đạo cách mạng của Đảng và sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Trường Chinh là hoàn toàn có cơ sở khoa học, có căn cứ thực tiễn. Có thể coi đây là một kinh nghiệm lịch sử. Quan trọng hơn là bước chuẩn bị cho sự xích lại gần nhau về trình độ mọi mặt giữa các vùng, miền trên dải đất dài của nước ta. Cho đến nay, dù có những ý kiến khác nhau, có thí điểm ở diện rộng, nhưng việc tổ chức HĐND và UBND vẫn như tinh thần Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992. Điều này thể hiện sự cẩn trọng của cơ quan lập pháp, các nhà lập pháp Việt Nam.

Với trách nhiệm nặng nề là người đứng đầu QH và sau đó là người đứng đầu Nhà nước, đồng chí Trường Chinh đã có những đóng góp lớn lao trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam: Góp phần quan trọng đặc biệt trong công cuộc khôi phục nền kinh tế miền Bắc, đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng và bảo vệ miền Bắc, góp phần đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, thực hiện tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam tháng 4.1975 và hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang thống nhất đất nước về mặt nhà nước tại QH Khóa VI năm 1976.

Bộ máy nhà nước và hệ thống chính quyền địa phương từng bước được hoàn thiện như hôm nay đã mang nặng công sức của đồng chí Trường Chinh. Đồng chí xứng đáng là một lãnh tụ xuất sắc của cách mạng Việt Nam.

Theo daibieunhandan.vn

Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh (9.2.1907 - 9.2.2017). Đồng chí Trường Chinh với công tác lập pháp và xây dựng bộ máy nhà nước

08 Tháng Hai 2017
Từ năm 1960 đến năm 1981, đồng chí Trường Chinh liên tục là Chủ tịch UBTVQH (nay là Chủ tịch QH) các Khóa II, III, IV, V và VI. Trong 21 năm đó, trên cương vị là người đứng đầu QH, đồng chí đã dành hết sức lực, tâm huyết và đã có nhiều cống hiến to lớn cho công tác lập pháp và xây dựng bộ máy nhà nước.
 
Những cống hiến xuất sắc

Sau năm 1954, miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng, nhưng miền Nam lại đặt dưới sự kiểm soát của đế quốc và tay sai. Nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nước ta lúc này là lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, giành lại nền độc lập trọn vẹn cho toàn dân tộc. Về kinh tế - xã hội, quan hệ sản xuất phong kiến ở miền Bắc tồn tại hàng nghìn năm đã bị xóa bỏ; quan hệ sản xuất mới mà cốt lõi là “người cày có ruộng” đã được thiết lập. Quan hệ đối ngoại của nước ta với các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (cũ) ngày càng phát triển. Trước tình hình đó và sau khi Hiến pháp năm 1959 ra đời thì nhiệm vụ lớn lao của miền Bắc là phải xây dựng Nhà nước Việt Nam theo quy định của Hiến pháp mới. Bộ máy nhà nước đó phải phát huy cao độ hiệu lực và hoạt động có hiệu quả cao nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử. Phải kế tục tư tưởng xây dựng một Nhà nước dân chủ nhân dân, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân; nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua QH và HĐND các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tính chất của Nhà nước Việt Nam là một nước dân chủ nhân dân. Là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, trên cương vị Chủ tịch UBTVQH, đồng chí Trường Chinh đã đóng góp tích cực, có trách nhiệm cao trong việc bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi có hiệu quả.
Cống hiến trực tiếp của người đứng đầu QH là lãnh đạo QH hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; quyết định chính xác những vấn đề trọng đại của quốc gia. Đồng chí Trường Chinh đã lãnh đạo các cơ quan trong bộ máy nhà nước chẳng những hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ mà còn giữ được mối quan hệ chặt chẽ theo luật định với các cơ quan dân cử. Quá trình thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ đã tạo sự thống nhất cao trong bộ máy nhà nước, phát huy được vai trò của từng cơ quan, của từng cá nhân đứng đầu các cơ quan theo quy định của Hiến pháp.

Cống hiến xuất sắc của đồng chí thể hiện ở sự kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam (trước đây là Đảng Lao động Việt Nam) luôn luôn là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Mặc dù Hiến pháp năm 1959 cũng như các văn kiện của Đảng, Nhà nước thời kỳ đó chưa xuất hiện khái niệm “Hệ thống chính trị” nhưng trên thực tế hệ thống chính trị gồm Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng đã được hình thành từ trước Cách mạng Tháng Tám và luôn luôn là một khối đại đoàn kết thống nhất trong sự nghiệp cách mạng. Với vai trò là Chủ tịch UBTVQH, đồng chí đã lãnh đạo QH quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, thiết lập các chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước theo hiến định.

Trong các nhiệm kỳ QH, từ Khóa II đến Khóa VI, đồng chí Trường Chinh đã trực tiếp chỉ đạo việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 1959; chỉ đạo và trực tiếp tham gia xây dựng Hiến pháp năm 1980 và 7 đạo luật, 7 nghị quyết của QH, 21 pháp lệnh cùng 34 nghị quyết của UBTVQH. Đó là một khối lượng công việc không nhỏ về lập pháp của QH và cá nhân Chủ tịch Trường Chinh. Bước đầu các quan hệ xã hội đã được điều chỉnh bằng Hiến pháp, pháp luật trong giai đoạn lịch sử cam go (huy động sức người, sức của phục vụ chiến trường miền Nam; chống chiến tranh phá hoại ác liệt của đế quốc Mỹ ở miền Bắc; thực hiện thống nhất đất nước; xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước sau 1975).

Kỳ họp đầu tiên của QH Khóa VI, chúng ta đã hoàn thành kế hoạch thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Đồng chí Trường Chinh tiếp tục được bầu làm Chủ tịch UBTVQH khóa này. QH đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới và nước Việt Nam có sứ mệnh lịch sử mới. Bước vào xây dựng đất nước sau chiến tranh, hoàn cảnh lịch sử xã hội đã thay đổi. Yêu cầu xây dựng một bản Hiến pháp cho thời kỳ mới được đặt ra khá bức xúc. Tại Kỳ họp thứ Nhất, QH Khóa VI, sau khi thảo luận đề nghị nêu trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng, ngày 2.7.1976, QH đã thông qua Nghị quyết thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 vị do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch. Sau 5 năm nghiên cứu xây dựng, chỉnh lý dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Trường Chinh, bản dự thảo Hiến pháp mới đã được công bố lấy ý kiến toàn dân. Và tại Kỳ họp thứ 7, QH Khóa VI, hồi 15 giờ 25 phút ngày 18.12.1980, QH đã nhất trí cao thông qua bản Hiến pháp năm 1980, thay thế Hiến pháp năm 1959.

Bộ máy nhà nước giai đoạn mới được xây dựng theo quy định của Hiến pháp mới, trong đó xác định, “QH là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Điều 82 của Hiến pháp này quy định vị trí đặc biệt của QH trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước (với tinh thần kế thừa các Hiến pháp năm 1946 và 1959). Theo đó, QH là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. QH là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

QH còn có một quyền rộng rãi, đặc biệt được quy định tại Khoản 15, Điều 83 là, “QH có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết”. Quy định này nhằm tạo mọi điều kiện để QH hoàn thiện một cách đầy đủ nhất và thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của mình. Các chủ thể trình dự án luật cũng được quy định rất rõ ràng tại Điều 86, “Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch QH, Hội đồng Quốc phòng, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH, các ĐBQH, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chính đảng, Tổng Công đoàn Việt Nam, tổ chức liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có quyền trình dự án luật ra trước QH”... Đó là những tiến bộ của Hiến pháp 1980, là công lao của cơ quan lập pháp mà Chủ tịch Trường Chinh là người đứng đầu.

Dấu ấn trong xây dựng chính quyền địa phương

Nói đến xây dựng bộ máy nhà nước, không thể không nói đến xây dựng chính quyền địa phương. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền địa phương ở nước ta là các UBND cách mạng và Ủy ban công nhân cách mạng (thay thế cho chính quyền cũ đã bị đánh đổ), vừa là bộ máy chính quyền địa phương, vừa là bộ máy hành chính. Đây là tổ chức chính quyền địa phương độc đáo, phù hợp với điều kiện cách mạng của nước ta (nó vừa là cơ quan hành chính để quản lý nhà nước như một bộ máy nhà nước, vừa thể hiện tính dân chủ, là chính quyền của nhân dân). Đồng chí Trường Chinh viết: “Những tổ chức ấy có tác dụng rất lớn. Chúng mang lại cho nhân dân một dịp thực hiện phổ thông đầu phiếu và tập dần công việc hành chính”(1)

Xem lại Sắc lệnh số 63 ngày 22.11.1945, chúng ta thấy rằng, pháp luật khi ấy chỉ mới quy định tính đại diện của HĐND, chưa quy định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương như sau này, nhưng trong các quy định về thẩm quyền và các mối quan hệ với Ủy ban hành chính và các cơ quan chính quyền cấp trên thì HĐND là cơ quan chủ đạo. Sau đó Hiến pháp năm 1946 mới quy định, “Ủy ban hành chính chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với HĐND cấp mình” (Điều 60, Hiến pháp năm 1946). Như vậy, bộ máy chính quyền địa phương gồm hai cơ quan là HĐND và UBND, lấy HĐND làm nền tảng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bộ máy này được thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu điều hành kháng chiến với sáu sắc lệnh được ban hành trong các năm 1947 - 1950. Hòa bình được lập lại ở miền Bắc, Nhà nước đã thực hiện các biện pháp sâu rộng và mạnh mẽ để củng cố và hoàn thiện tổ chức chính quyền nhân dân các cấp ở địa phương. Quan điểm của Đảng ta lúc này là làm cho chính quyền thật vững mạnh, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để thực hiện chiến tranh nhân dân có hiệu quả. Đến Hiến pháp năm 1959, lần đầu tiên HĐND được Hiến pháp ghi nhận là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, và đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch UBTVQH đã phát triển về mặt nhận thức và xác định đúng đắn vai trò, vị trí của HĐND. Với vai trò là Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp năm 1980, đồng chí đã chỉ đạo đổi mới thiết chế chính quyền địa phương cho phù hợp với giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ, trong đó đã xóa bỏ cấp Khu tự trị (khu tự trị Việt Bắc và khu tự trị Tây Bắc), cấu trúc đơn vị hành chính của thành phố trực thuộc Trung ương cũng được quy định “cứng”, cơ quan chấp hành là UBND chứ không phải Ủy ban Hành chính.

Qua đây chúng ta thấy rõ ý nghĩa chiến lược trong lãnh đạo cách mạng của Đảng và sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Trường Chinh là hoàn toàn có cơ sở khoa học, có căn cứ thực tiễn. Có thể coi đây là một kinh nghiệm lịch sử. Quan trọng hơn là bước chuẩn bị cho sự xích lại gần nhau về trình độ mọi mặt giữa các vùng, miền trên dải đất dài của nước ta. Cho đến nay, dù có những ý kiến khác nhau, có thí điểm ở diện rộng, nhưng việc tổ chức HĐND và UBND vẫn như tinh thần Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992. Điều này thể hiện sự cẩn trọng của cơ quan lập pháp, các nhà lập pháp Việt Nam.

Với trách nhiệm nặng nề là người đứng đầu QH và sau đó là người đứng đầu Nhà nước, đồng chí Trường Chinh đã có những đóng góp lớn lao trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam: Góp phần quan trọng đặc biệt trong công cuộc khôi phục nền kinh tế miền Bắc, đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng và bảo vệ miền Bắc, góp phần đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, thực hiện tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam tháng 4.1975 và hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang thống nhất đất nước về mặt nhà nước tại QH Khóa VI năm 1976.

Bộ máy nhà nước và hệ thống chính quyền địa phương từng bước được hoàn thiện như hôm nay đã mang nặng công sức của đồng chí Trường Chinh. Đồng chí xứng đáng là một lãnh tụ xuất sắc của cách mạng Việt Nam.

Theo daibieunhandan.vn