Giám sát ngân sách cấp tỉnh theo quản trị tài chính công hiện đại: Định hướng hoàn thiện cơ chế theo hướng minh bạch và hiệu quả
05/05/2026
Cùng với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, quản trị tài chính công đang dịch chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình dựa trên dữ liệu, minh bạch và tương tác. Điều này đặt ra yêu cầu HĐND cấp tỉnh phải nâng cao năng lực giám sát, chuyển từ “giám sát hành chính” sang “giám sát chiến lược dựa trên dữ liệu và bằng chứng”.
Tóm tắt
Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới giám sát ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh trong bối cảnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính công. Trên cơ sở phân tích lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra rằng, công tác này cần tập trung vào tính bền vững của nguồn thu, hiệu quả chi tiêu công và kỷ luật tài khóa, đồng thời được hỗ trợ bởi dữ liệu mở và cơ chế giám sát đa chủ thể. Qua đó, bài viết đề xuất hoàn thiện cơ chế giám sát ngân sách ở cấp tỉnh theo hướng tăng cường minh bạch dữ liệu, nâng cao năng lực của cơ quan dân cử và thúc đẩy sự tham gia của các chủ thể xã hội.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ngân sách nhà nước (NSNN) tiếp tục giữ vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô chủ yếu, đồng thời là phương tiện quan trọng để thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội và phát triển bao trùm. Tuy nhiên, yêu cầu đối với giám sát NSNN ở cấp địa phương đã thay đổi đáng kể: từ kiểm tra tính tuân thủ sang đánh giá hiệu quả phân bổ, minh bạch và tác động xã hội của chi tiêu công.
Cùng với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, quản trị tài chính công đang dịch chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình dựa trên dữ liệu, minh bạch và tương tác. Điều này đặt ra yêu cầu HĐND cấp tỉnh phải nâng cao năng lực giám sát, chuyển từ “giám sát hành chính” sang “giám sát chiến lược dựa trên dữ liệu và bằng chứng”.
Trên cơ sở đó, bài viết tập trung trả lời câu hỏi: Giám sát NSNN cấp tỉnh cần được thiết kế như thế nào để vừa bảo đảm hiệu quả phân bổ nguồn lực, vừa thúc đẩy công bằng và minh bạch trong bối cảnh chuyển đổi số?
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN
Quản trị tài chính công hiện đại nhấn mạnh các nguyên tắc cốt lõi gồm kỷ luật tài khóa, hiệu quả phân bổ, hiệu quả vận hành và minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình (IMF, 2018; OECD, 2019). Trong đó, giám sát ngân sách là công cụ quan trọng nhằm bảo đảm các nguyên tắc này được thực thi trong thực tiễn.
Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, minh bạch tài khóa, dữ liệu mở và áp dụng công nghệ số có tác động tích cực đến hiệu quả chi tiêu công và niềm tin của người dân (OECD, 2022; World Bank, 2018; UNDP, 2021). Đồng thời, cách tiếp cận quản trị đa chủ thể nhấn mạnh vai trò của các chủ thể ngoài nhà nước như xã hội dân sự, báo chí và người dân trong giám sát tài chính công.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào cải cách quản lý ngân sách và chuyển đổi số trong khu vực công, nhưng còn thiếu các phân tích tích hợp về giám sát ngân sách cấp tỉnh gắn với mục tiêu công bằng và cơ chế giám sát đa chủ thể.
GIÁM SÁT NGÂN SÁCH CẤP TỈNH THEO CÁC NGUYÊN TẮC CỦA QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CÔNG HIỆN ĐẠI
Giám sát NSNN ở cấp tỉnh cần được thực hiện trên nền tảng các nguyên tắc của quản trị tài chính công hiện đại, bao gồm: tính tổng thể và kỷ luật tài khóa; tính linh hoạt và tính tiên liệu; tính thực tiễn; và minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình.
Trước hết, giám sát ngân sách hiệu quả đòi hỏi phải đặt trong bức tranh tài khóa tổng thể, thay vì chỉ xem xét dự toán ngân sách địa phương theo từng năm. Bức tranh này bao gồm toàn bộ các nguồn lực tài chính như ngân sách trung ương bổ sung, các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vay và các quỹ tài chính ngoài ngân sách. Chỉ khi đánh giá đầy đủ các nguồn lực này, cơ quan giám sát mới có thể xác định đúng khả năng chịu đựng tài khóa và mức độ bền vững của ngân sách địa phương. Trong thực tiễn, áp lực đầu tư hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương dễ dẫn đến xu hướng mở rộng chi tiêu vượt quá khả năng cân đối, do đó vai trò giám sát nhằm bảo đảm kỷ luật tài khóa càng trở nên quan trọng.
Bên cạnh đó, tính linh hoạt và tính tiên liệu của ngân sách cần được xem xét thông qua khung chi tiêu trung hạn và khả năng ứng phó với các cú sốc kinh tế - xã hội. Giám sát không chỉ nhằm kiểm tra việc điều chỉnh ngân sách trong ngắn hạn mà còn phải đánh giá tính nhất quán của các ưu tiên chính sách trong trung và dài hạn.
Tính thực tiễn của ngân sách thể hiện ở khả năng triển khai trong điều kiện cụ thể của địa phương. Thực tế cho thấy, việc xây dựng dự toán thu - chi chưa sát thực tiễn có thể dẫn đến tình trạng hụt thu, gián đoạn đầu tư hoặc chậm triển khai các chính sách an sinh. Do đó, giám sát cần hướng đến việc đánh giá tính khả thi của dự toán và kịp thời điều chỉnh các sai lệch.
Cuối cùng, minh bạch và trách nhiệm giải trình là điều kiện cốt lõi để nâng cao chất lượng giám sát. Khi dữ liệu ngân sách được công khai theo chuẩn hóa và có thể truy cập, hoạt động giám sát không chỉ giới hạn trong cơ quan nhà nước mà còn mở rộng sang các chủ thể xã hội, qua đó tăng cường tính kiểm chứng và nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý.
GIÁM SÁT NGÂN SÁCH CẤP TỈNH GẮN VỚI MỤC TIÊU GIẢM BẤT BÌNH ĐẲNG VÀ PHÁT TRIỂN BAO TRÙM
Đây là nội dung then chốt nhằm chuyển giám sát ngân sách từ tiếp cận kiểm tra tính hợp pháp sang đánh giá và điều chỉnh phân bổ nguồn lực theo hướng bảo đảm công bằng cơ hội và phát triển bao trùm.
Thực tiễn cho thấy, bất bình đẳng giữa các vùng, giữa khu vực đô thị và nông thôn, giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng thuận lợi là hiện tượng mang tính cấu trúc. NSNN là công cụ quan trọng để điều tiết và thu hẹp khoảng cách này, tuy nhiên hiệu quả phụ thuộc đáng kể vào chất lượng giám sát của HĐND.
Trong quá trình thẩm tra và quyết định dự toán, HĐND cần yêu cầu UBND thuyết minh rõ nguyên tắc phân bổ ngân sách, đặc biệt đối với chi đầu tư phát triển, như căn cứ dân số, diện tích, tỷ lệ hộ nghèo, năng lực đóng góp ngân sách hoặc các chương trình mục tiêu quốc gia. Trên cơ sở đó, hoạt động giám sát cần đánh giá mức độ phù hợp của các nguyên tắc này, liệu có thực sự hướng đến các nhóm yếu thế hay vẫn có xu hướng tập trung vào các khu vực trung tâm.
Một hướng tiếp cận có thể nghiên cứu áp dụng là chỉ số công bằng trong chi tiêu công. Việc tính toán định kỳ chỉ số này giúp phát hiện các lệch pha trong phân bổ nguồn lực. Chẳng hạn, khi một địa phương miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao nhưng mức phân bổ đầu tư thấp hơn bình quân chung của tỉnh, cơ quan giám sát cần kịp thời chất vấn và yêu cầu điều chỉnh.
Đối với các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, việc giám sát ngân sách cần gắn chặt với khả năng tiếp cận các dịch vụ công cơ bản như giáo dục, y tế, nước sạch và hạ tầng giao thông. Trong trường hợp ngân sách đã được bố trí nhưng công trình chậm tiến độ, chất lượng không bảo đảm hoặc không phù hợp điều kiện thực tế, HĐND cần yêu cầu điều chỉnh thiết kế, thay đổi chủ đầu tư hoặc rà soát lại cơ chế thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
CƠ CHẾ GIÁM SÁT ĐA TẦNG, ĐA CHỦ THỂ
Giám sát ngân sách không thể chỉ là chức năng riêng của HĐND, mà cần được tổ chức theo cơ chế đa tầng, đa chủ thể trong khuôn khổ quản trị công hiện đại.
Thứ nhất, tầng giám sát nhà nước bao gồm HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, đại biểu chuyên trách và Kiểm toán nhà nước, tập trung vào đánh giá tính tuân thủ, hiệu quả và trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính.
Thứ hai, tầng giám sát xã hội được thực hiện thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp, báo chí và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, với vai trò theo dõi, phản biện và cung cấp thông tin từ thực tiễn triển khai các chương trình, dự án sử dụng ngân sách.
Thứ ba, tầng giám sát công dân dựa trên công nghệ số cho phép người dân, doanh nghiệp và cộng đồng chuyên gia tham gia giám sát thông qua các nền tảng dữ liệu mở, ứng dụng phản ánh hiện trường, bản đồ dự án đầu tư công và các công cụ trực quan hóa tiến độ thực hiện ngân sách.
Trong cơ chế này, HĐND cần đóng vai trò điều phối trung tâm, thiết lập các quy định về công khai thông tin, trách nhiệm giải trình và cơ chế phản hồi. Việc tổ chức các phiên giải trình công khai, tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội và bảo đảm phản hồi đầy đủ các kiến nghị sẽ góp phần hình thành vòng lặp giám sát khép kín.
Khi đó, giám sát ngân sách không còn mang tính thời điểm theo kỳ họp, mà trở thành một quá trình liên tục, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị tài chính công và tăng cường niềm tin của xã hội.
SỐ HOÁ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CÔNG - ĐIỀU KIỆN ĐỂ GIÁM SÁT THÔNG MINH
Số hóa là yếu tố then chốt trong việc chuyển đổi phương thức giám sát ngân sách từ tiếp cận truyền thống sang tiếp cận dựa trên dữ liệu. Việc triển khai các hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc, cùng với các nền tảng dữ liệu tài chính công, cho phép cơ quan giám sát tiếp cận thông tin theo thời gian thực, từ đó nâng cao tính kịp thời và chính xác trong đánh giá.
Số hóa không chỉ giúp giảm độ trễ thông tin mà còn làm tăng tính khách quan của hoạt động giám sát, khi các quyết định được dựa trên dữ liệu gốc thay vì báo cáo tổng hợp. Đồng thời, việc phát triển các công cụ trực quan hóa như bảng điều khiển giám sát và cổng dữ liệu mở tạo điều kiện cho đại biểu dân cử, báo chí và người dân tiếp cận thông tin một cách thuận tiện hơn.
Như vậy, số hóa không chỉ là công cụ hỗ trợ kỹ thuật mà còn là nền tảng để hình thành một hệ thống giám sát ngân sách hiện đại, minh bạch và có khả năng tương tác cao giữa các chủ thể.
ĐỊNH HƯỚNG TRỌNG TÂM GIÁM SÁT NGÂN SÁCH Ở CẤP TỈNH
Kết quả nghiên cứu cho thấy, giám sát ngân sách ở cấp tỉnh cần được định hướng theo các trọng tâm gắn với hiệu quả phân bổ, kỷ luật tài khóa và trách nhiệm giải trình.
Một là, giám sát cần tập trung vào tính bền vững của nguồn thu ngân sách, đặc biệt trong bối cảnh nhiều địa phương có xu hướng phụ thuộc vào các nguồn thu mang tính chu kỳ như đất đai. Việc theo dõi các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế cũng cần được đặt trong mối quan hệ cân bằng giữa hỗ trợ phát triển kinh tế và bảo đảm ổn định ngân sách.
Hai là, đối với chi ngân sách, trọng tâm giám sát nên chuyển từ kiểm tra tuân thủ sang đánh giá hiệu quả và tác động của chi tiêu công. Trong đó, cần ưu tiên giám sát chi đầu tư công và các lĩnh vực an sinh xã hội, đặc biệt là giáo dục, y tế và các chương trình dành cho khu vực khó khăn, nhằm bảo đảm nguồn lực được phân bổ đúng mục tiêu và phát huy hiệu quả sau đầu tư.
Ba là, giám sát cân đối ngân sách và nghĩa vụ tài chính của địa phương là nội dung quan trọng nhằm duy trì kỷ luật tài khóa. Điều này bao gồm việc theo dõi bội chi, nợ công, nợ đọng xây dựng cơ bản và các quỹ tài chính ngoài ngân sách, qua đó hạn chế rủi ro chuyển gánh nặng tài chính sang các giai đoạn sau.
Bốn là, giám sát việc thực thi phân cấp, phân quyền tài chính - ngân sách cần được chú trọng nhằm đánh giá mức độ phù hợp giữa quyền hạn được giao và năng lực thực thi của chính quyền các cấp, cũng như trách nhiệm giải trình đi kèm.
Nhìn chung, các trọng tâm này phản ánh sự chuyển dịch từ giám sát hình thức sang giám sát dựa trên hiệu quả, tính bền vững và tác động phân bổ NSNN.
KHUYẾN NGHỊ
Bài viết đề xuất một số định hướng hoàn thiện cơ chế giám sát ngân sách ở cấp tỉnh theo hướng nâng cao hiệu quả và tính minh bạch như sau:
Về thể chế, cần hoàn thiện quy định về quyền tiếp cận và yêu cầu cung cấp thông tin của HĐND; đồng thời tăng cường cơ chế ràng buộc trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính trong lĩnh vực ngân sách.
Về năng lực thực thi, việc nâng cao chất lượng đại biểu HĐND, đặc biệt là đại biểu chuyên trách có chuyên môn tài chính - ngân sách, cùng với đào tạo kỹ năng phân tích dữ liệu và đánh giá hiệu quả chi tiêu công, là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng giám sát.
Về tổ chức và phối hợp, cần thiết lập cơ chế liên thông giữa HĐND, UBND và các tổ chức chính trị - xã hội trong công khai, chia sẻ và xử lý thông tin ngân sách, bảo đảm tính thống nhất và tránh phân tán dữ liệu.
Cuối cùng, việc tăng cường minh bạch thông tin và sự tham gia của xã hội thông qua công khai kết quả giám sát, phản hồi kiến nghị và khuyến khích giám sát cộng đồng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững của hệ thống giám sát ngân sách.
Vũ Tiến Anh
Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Gia Lai